TÒA NHẬN ĐỊNH
Đối chiếu với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, có đủ cơ sở để xác định: Vào năm 2008, vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ và bà Phan Thị N có nhu cầu vay vốn nên có vay tiền của bà Nguyễn Thị S để trả nợ cho Ngân hàng V; rồi vay lại tiền của ngân hàng khác trả nợ lại cho bà S. Nên giữa bà Nguyễn Thị S và vợ chồng ông Đ, bà N thống nhất thỏa thuận bà S cho vợ chồng ông Đ, bà N vay tiền để trả nợ Ngân hàng. Sau đó, hai bên cùng ra công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X426415 do UBND thành phố Đà Nẵng cấp ngày 15-01- 2004, được lập tại Phòng công chứng số XX, thành phố Đà Nẵng vào ngày 21-3- 2008 để bà S đứng tên quyền sử dụng đất nói trên để thế chấp vay tiền. Mục đích lập hợp đồng này là để bà Nguyễn Thị S đứng ra thế chấp vay Ngân hàng trừ vào số tiền mà bà Nguyễn Thị S đã đưa cho vợ chồng ông Đ, bà N vay trước đó chứ thực chất không phải chuyển nhượng đất như hợp đồng. Điều này phù hợp với nội dung của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2011/HSST ngày 13-9-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử bà Nguyễn Thị S và đã có hiệu lực pháp luật.
Do Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Phan Thị N với bà Nguyễn Thị S lập tại Phòng công chứng số XX, thành phố Đà Nẵng vào ngày 21-3-2008 là vô hiệu và do hủy chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất ngày 25-3-2008, nên kéo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng dất giữa Ngân hàng với bà S cũng không thực hiện được như phân tích trên. Vì vậy, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi gây thiệt hại dẫn đến hợp đồng thế chấp không thực hiện được phải bồi thường. Lỗi dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21-3-2008 giữa vợ chồng ông Đ, bà N với bà S vô hiệu là do cả hai bên bà S với vợ chồng ông Đ, bà N.
Theo đó, bà S và vợ chồng ông Đ phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hang số tiền 800.000.000đ gốc và thiệt hại được xác định là tiền lãi phát sinh theo khế ước vay tiền giữa bà S với Ngân hàng. Trong đó, bà S phải trả gốc 500.000.000đ, vợ chồng ông Đ trả gốc 300.000.000đ. Đồng thời xác định lỗi ở đây là do vợ chồng ông Đ, bà N và bà S trong ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả tạo dẫn đến thiệt hại của Ngân hàng không xử lý tài sản thế chấp được.
TUYÊN XỬ
2. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số 001.08 ngày 08-4-2008 giữa bà Nguyễn Thị S với Ngân hàng TMCP Phát triển T bị vô hiệu.
- Không chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP Phát triển T.
3. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Phan Thị N với bà Nguyễn Thị S lập tại Phòng công chứng số XX, thành phố Đà Nẵng vào ngày 21-3-2008 là vô hiệu.
4. Hủy chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất ngày 25-3-2008 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Phan Thị N sang bà Nguyễn Thị S.
- Ông Nguyễn Văn Đ và bà Phan Thị N được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để khôi phục lại chỉnh lý biến động trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ tên bà Nguyễn Thị S về lại tên ông Nguyễn Văn Đ, bà Phan Thị N.
Nội dung được trích một phần của Bản án:https://drive.google.com/file/d/11bmCX6Ge3X_93gKvDueK0TUyOkiz9bMD/view?usp=sharing
Thông tin và liên hệ luật sư
Công ty Luật Pháp Định
454 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh (T7/3 - Lộc Lê)
0909 666 275 - 0949 998 881